Tại Hà Nội, số ca mắc COVID-19 liên tục tăng những tuần gần đây, có ngày đã ở mức 30.000 ca/ngày và dự báo có thể đạt đỉnh dịch trong 2 tuần tới. Áp lực đặt ra cho các cơ sở điều trị là rất lớn.
Ngành y tế của thành phố đang đối mặt với những khó khăn như thế nào? Đâu là những giải pháp mà Hà Nội đang tập trung triển khai để ứng phó nhanh trước những diễn biến của dịch bệnh.

Điểm tiêm mũi 3 vaccine phòng COVID-19 tại bệnh viện Bạch Mai. Ảnh: Tuấn Đức - TTXVN
Ông Chử Xuân Dũng, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội cho biết, Thành phố đang quyết liệt chỉ đạo việc tiêm vaccine COVID-19, bảo vệ những nhóm người nguy cơ cao; triển khai các giải pháp hạn chế bệnh nhân chuyển nặng, tử vong. Thành phố có nhiều giải pháp trong việc phân tuyến, điều trị tại nhà đem lại hiệu quả tích cực.
Thành phố cũng đề nghị Bộ Y tế sớm ban hành hướng dẫn về việc thanh quyết toán, chi trả khám và điều trị cho bệnh nhân COVID-19.
Bên cạnh đó, TP cũng phối hợp với cơ quan bảo hiểm để cắt giảm thủ tục hành chính, giúp các F0 điều trị tại nhà được hưởng quyền lợi theo hướng thuận lợi nhất.
Theo VTV
Từ 16h ngày 6/3 đến 16h ngày 7/3, trên Hệ thống Quốc gia quản lý ca bệnh COVID-19 ghi nhận 147.358 ca mắc mới (tăng 5.207 ca so với ngày trước đó). Trong đó, Hà Nội lại lập đỉnh với 32.317 ca với 12.443 ca cộng đồng.
Các địa phương có số ca mắc cao khác: Nghệ An (10.153), Bắc Ninh (7.873), Phú Thọ (4.326), Hưng Yên (3.978), Sơn La (3.953), Hòa Bình (3.866), Hải Dương (3.799), Bình Dương (3.644), Nam Định (3.455), Lạng Sơn (3.118)...
Bà Nguyễn Thị Huỳnh Mai, Chánh văn phòng Sở Y tế TP.HCM cho biết hiện nay, Bộ Y tế đã cấp phép cho 3 công ty dược lớn sản xuất thuốc kháng virus. Năng lực sản xuất thuốc khoảng 2 triệu viên/tháng và thời gian tới, Bộ cũng sẽ cấp phép thêm một số công ty dược được sản xuất thuốc điều trị COVID-19 nên người dân không lo thiếu thuốc.

Bà Nguyễn Thị Huỳnh Mai, Chánh Văn phòng Sở Y tế TP.HCM trả lời báo chí chiều 7/3.
Bà Nguyễn Thị Huỳnh Mai cho biết thêm: "Hạn sử dụng của thuốc có thời hạn ngắn chứ không như thuốc khác nên trữ cũng không có lợi. Đây là thuốc điều trị theo kê toa nên phải đủ điều kiện mới sử dụng. Do đó chúng ta cần phải tuân thủ theo hướng dẫn của các cơ sở y tế. Sau khi các công ty dược sản xuất rầm rộ thì khả năng sản phẩm còn giảm giá nữa".

Người dân mua thuốc tại nhà thuốc.
Hiện Sở Y tế có hướng dẫn các nhà thuốc, tập huấn các đơn vị nằm trong Chi hội dược với hơn 2.500 nhà thuốc đồng hành và đây là thuốc bắt buộc phải kê đơn. Ngoài ra, bà Huỳnh Mai cho biết thêm, TP.HCM vẫn còn 29.000 liều Molnupiravir tại các trạm y tế và trạm y tế lưu động. Do đó, người dân cần bình tĩnh vì chắc chắn sẽ không thiếu thuốc và thuốc vẫn sẽ được phát miễn phí./.
Theo VOV
Số ca lây nhiễm COVID-19 đang tăng lên chóng mặt trong những ngày gần đây. Nhưng do việc tiêm vaccine đã được thực hiện rộng rãi và kịp thời, nên hầu hết các ca nhiễm mới đều có triệu chứng nhẹ và khỏi sau hơn 1 tuần. Tuy nhiên, theo các chuyên gia y tế, vẫn có những đối tượng F0 dù đã tiêm đủ 3 mũi vẫn có nguy cơ cao biến chứng, trở nặng.
PGS.TS Trần Đắc Phu - Nguyên cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) cho biết, tiêm đủ các liều vaccine sẽ giảm tình trạng nặng và tử vong đối với người nhiễm. Tuy nhiên, vẫn có những đối tượng F0 dù tiêm đủ các liệu vaccine song vẫn có nguy cơ cao trở nặng. Người nhiễm bệnh cần chú ý theo dõi sức khỏe bản thân, đặc là những người có bệnh nền. Vì nhiều trường hợp cơ thể khi mới nhiễm COVID-19 không có dấu hiệu trở nặng nhưng vài ngày sau đó, tình trạng sức khỏe sẽ bị xấu đi.

Cụ thể, đối với nhóm F0 đã tiêm đủ 2 mũi vaccine COVID-19, thì những người vẫn có nguy cơ cao trở nặng là những người mắc các bệnh tiểu đường, béo phì, người lớn tuổi hoặc có bệnh nền chưa ổn định như tăng huyết áp.
Nhóm bệnh nhân này có thể lựa chọn điều trị tại nhà nhưng cần theo dõi đặc biệt khắt khe hoặc có thể nhập viện điều trị tùy theo tình hình tại từng địa phương.
Ngoài ra, vẫn còn những người mới chỉ tiêm 1 hoặc 2 mũi, tiêm chưa đủ 14 ngày thì vẫn có nguy cơ biến chứng khi nặng khi mắc COVID-19. Cụ thể là những người lớn tuổi; người có các bệnh nền như ung thư, HIV, suy thận mạn, chạy thận nhân tạo, viêm gan mạn tính, béo phì, tiểu đường và phụ nữ có thai.
Vậy nên, các chuyên gia y tế khuyến cáo người dân cần thực hiện nghiêm quy định về phòng chống dịch bệnh, không chủ quan dù đã tiêm đủ 2-3 mũi vaccine. Đặc biệt đối với những người trẻ khi tiếp xúc với bên ngoài nhiều cần thận trọng, tránh mang mầm bệnh về cho người thân, nhất là những người lớn tuổi trong gia đình.
Theo VTV
Đây là lời khẳng định của PGS Hsu Li Yang, Phó khoa Y tế toàn cầu tại Trường Y tế Công cộng Saw Swee Hock thuộc Đại học Quốc gia Singapore (NUS). Ông và các chuyên gia Singapore khác đều chung quan điểm khả năng tái mắc Covid-19 ở người nhiễm Omicron thấp hơn so với biến chủng khác. Đặc biệt, thời gian đóng vai trò quan trọng trong việc xác định nguy cơ tái nhiễm của F0.
BA.2 - biến chủng Omicron tàng hình là một trong 2 dòng phụ được quan tâm nhất hiện nay. Theo PGS Hsu, nguy cơ tái nhiễm BA.2 rất thấp ở thời điểm hiện tại.
“Biến chủng Omicron mới xuất hiện ở Singapore được vài tháng, vì vậy bất kỳ người dân nào cũng chỉ mới nhiễm nó trong vòng 2-3 tháng trước. Nguy cơ tái nhiễm trong vòng 6 tháng là rất thấp”, vị chuyên gia nói.
Ngoài ra, PGS Hsu khẳng định rủi ro bị tái nhiễm cùng một chủng Omicron có thể không đáng kể trong năm đầu tiên. Song, ông cũng khá thận trọng khi cảnh báo hiện tại không có đủ bằng chứng để chắc chắn về bất kỳ điều gì.
Và dù bằng cách nào, vaccine vẫn là chìa khóa để giảm nguy cơ mắc bệnh nặng, tử vong. Ông Hsu dẫn thống kê cho biết tỷ lệ tử vong ở người đã tiêm vaccine thấp hơn từ 8 đến 10 lần so với những người chưa tiêm hoặc mới tiêm 1 mũi.
Các chuyên gia nhận định người nhiễm Omicron có nguy cơ tái mắc Covid-19 rất thấp, thấp nhất trong số các biến chủng. Ảnh: Times of India.
Giáo sư Dale Fisher, chuyên gia tư vấn cấp cao tại khoa Truyền nhiễm, Bệnh viện Đại học Quốc gia Mỹ, cũng đồng quan điểm. Các nghiên cứu gần đây cho thấy tình trạng tái mắc Covid-19 ở F0 nhiễm Omicron không phổ biến trong vòng 2 tháng đầu tiên.
Song, rủi ro sẽ tăng lên trong trường hợp một người đã nhiễm biến chủng khác và tiếp xúc Omicron.
GS Hsu nhận định điều này có thể dễ hiểu. Bởi khả năng tái nhiễm tăng lên theo thời gian. Qua năm tháng, mức độ kháng thể bảo vệ của một người nào đó sẽ giảm dần, không còn đủ để chống chọi với virus ngày càng tiến hóa. Vị chuyên gia cũng cho biết các biến chủng mới ít bị tổn thương trước kháng thể được tạo ra chống lại biến chủng trước đó.
Về điểm này, GS Fisher giải thích thêm: “Biến chủng Omicron cho thấy khả năng thoát khỏi hệ miễn dịch, dù là từ vaccine hay lần mắc Covid-19 trước”.
Giáo sư Paul Tambyah, Phó Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Dịch chuyển Các bệnh Truyền nhiễm tại Trường Y khoa Yong Loo Lin, Đại học Quốc gia Singapore, chia sẻ dữ liệu từ Vương quốc Anh đã cho thấy nguy cơ tái nhiễm Omicron “nhỏ nhưng đã xảy ra” ở một số ít bệnh nhân.
Song, vị chuyên gia này cũng nói thêm tần suất gặp phải nó rất khó xảy ra, tương đương khả năng ai đó bị thủy đậu hai lần.
Cả Giáo sư Paul Tambyah và Giáo sư Fisher đều cho biết hiện tại cũng không có khả năng một người nào đó đã nhiễm Omicron tái mắc một biến chủng nào khác.
“Omicron đang là biến chủng thống trị trên toàn cầu. Vì vậy, việc lây nhiễm biến chủng khác vào lúc này gần như là không thể xảy ra”, GS Fisher nói thêm.
Dù vậy, vị chuyên gia cũng khá thận trọng. Omicron có thể đột biến thành dạng khác, làm mất khả năng miễn dịch mà chúng ta có được để chống chọi lại nó.
Trên thực tế, Omicron được cho là đã tiến hóa với độc lực thấp hơn, gây bệnh nhẹ hơn. Vì vậy, nhiều quan điểm cho rằng biến chủng này có thể cung cấp kháng thể tự nhiên cho những chủng virus corona của tương lai.

Hình ảnh dưới kính hiển vi điện tử của SARS-CoV-2. Ảnh: Phanie/Alamy.
Trước đó, các nhà khoa học Đan Mạch xác nhận dòng phụ BA.2 có thể gây tái mắc Covid-19 ở những người từng nhiễm BA.1 của Omicron, mặc dù nguy cơ này rất thấp.
Viện Huyết thanh Statens ở Copenhagen, Đan Mạch, đã phân tích ngẫu nhiên 263 trường hợp tái mắc Covid-19. Kết quả cho thấy 47 người đã mắc phải BA.2 sau chưa đầy 2 tháng nhiễm BA.1. Đa số những người tái nhiễm BA.2 đều dưới 20 tuổi và chưa được tiêm chủng.
“Tỷ lệ tái nhiễm có vẻ thấp nhưng cho thấy sự cần thiết của việc đánh giá liên tục thời gian tồn tại miễn dịch tự nhiên hoặc từ vaccine”, CNBC dẫn lời nhóm tác giả.
Những người bị tái nhiễm có triệu chứng nhẹ, không ai trong số họ phải nhập viện hoặc tử vong. Nghiên cứu cũng cho thấy những người nhiễm BA.2 ở lần 2 có tải lượng virus thấp, chứng tỏ khả năng miễn dịch chéo từ lần mắc đầu tiên.
Trong khi đó, Cơ quan An ninh Y tế Vương quốc Anh cũng từng phát hiện 69 ca tái nhiễm sau không quá 90 ngày mắc Covid-19 lần đầu. Ở lần thứ 2, họ nhiễm BA.2 và không ca nào nhiễm Omicron 2 lần. Chủng trước đó họ nhiễm là Delta.
Theo Zingnews
Nửa tiếng sau khi được lấy mẫu xét nghiệm, chị Tuyết Mai (30 tuổi, TP.HCM) cùng con trai vẫn đứng cạnh khu xét nghiệm Covid-19 sàng lọc Covid-19 của Bệnh viện Nhi đồng 2 chờ nhận kết quả.
Chiều 7/3, phía trước sân bệnh viện và khu vực sàng lọc nghi nhiễm, nhiều phụ huynh và trẻ em xếp hàng chờ xét nghiệm và ngồi ở các băng ghế đá chờ đợi. Theo thông báo của bệnh viện, thời gian chờ nhận kết quả có thể khoảng 45 phút.
"Vài ngày qua, con tôi thỉnh thoảng sốt cao, test nhanh Covid-19 âm tính nhưng khi vào đây khám bệnh vẫn phải xét nghiệm lại. Mỗi lần tôi đưa con đến khám, bệnh viện vẫn luôn đông như thế. Tôi không sợ mất thời gian chờ đợi nhưng sợ nguy cơ lây nhiễm do quá đông người", chị Mai chia sẻ.
Còn tại Bệnh viện Nhi đồng Thành phố, thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa II Nguyễn Trần Nam, Phó giám đốc, cho biết trong khoảng một tháng nay, số lượng trẻ em F0 đến khám ngoại trú tại đơn vị này cũng có xu hướng tăng cao.
"Trẻ mắc Covid-19 được gia đình chuyển đến bệnh viện tăng cao do xuất hiện triệu chứng sốt, ho. Đa số đều được bác sĩ khám và tư vấn điều trị ngoại trú do tình trạng không nặng", bác sĩ Nam thông tin.
Trước số lượng trẻ đến khám và điều trị ngoại trú tăng cao, bệnh viện tăng công suất từ 150 đến 200 giường bệnh. Hiện khoa Nhiễm của Bệnh viện Nhi đồng Thành phố có 65 trẻ em F0 điều trị nội trú.
"Chúng tôi cũng ưu tiên cho các bệnh nhi xuất viện sớm sau 1-2 ngày điều trị ổn định. Đa số phụ huynh có tâm lý lo lắng, muốn chuyển viện khi thấy trẻ sốt cao, ho nhiều hơn. Do đó, công suất giường bệnh luôn đảm bảo nếu số lượng trẻ mắc tăng cao", bác sĩ Nam nói thêm.
"" style="box-sizing: border-box; text-rendering: geometricprecision; outline: 0px; -webkit-font-smoothing: antialiased; margin: 0px auto; padding: 0px; border: 0px; font-size: 14.08px; vertical-align: baseline; background: transparent; text-size-adjust: 100%; width: 860px; display: block; min-width: 100%; object-fit: unset !important; overflow: hidden; position: relative; height: 161px;">Bên trong khu điều trị nội trú tại khoa Covid-19, Bệnh viện Nhi đồng 1. Ảnh: Duy Hiệu.
Bác sĩ Dư Tấn Quy, Trưởng khoa Nhiễm - Thần kinh, Bệnh viện Nhi đồng 1, cũng cho biết số lượng trẻ em mắc Covid-19 đến khám tại đơn vị này có xu hướng tăng cao hơn so với trước đây.
"Điều khiến chúng ta đỡ lo hơn là trẻ em F0 đến viện khám có tăng nhưng đa số nhẹ, được chỉ định điều trị ngoại trú nhiều mà không phải nhập viện", bác sĩ Quy nói.
Ông cũng lý giải nguyên nhân của tình trạng này là tâm lý lo lắng quá mức của phụ huynh khi thấy trẻ sốt trong 1-3 ngày đầu của bệnh.
"Ngoài thăm khám cho trẻ, nhân viên y tế thường trấn an phụ huynh, hướng dẫn cách chăm sóc. Trẻ điều trị nội trú là những bé có tình trạng nặng, nguy cơ cao như bệnh nền, suy giảm miễn dịch, béo phì, ung thư, tiểu đường, tim mạch", bác sĩ Quy cho hay.
Theo Tiền phong
Vaccine Pfizer/BioNTech phòng COVID-19 có hiệu quả hơn 90% trong việc ngăn ngừa COVID-19 ở trẻ em từ 5 - 11 tuổi.
Trước khi khuyến cáo tiêm vaccine COVID-19 cho trẻ em ở độ tuổi này, các nhà khoa học đã tiến hành các thử nghiệm lâm sàng và Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm (FDA) Mỹ đã xác định vaccine Pfizer/BioNTech đáp ứng đủ các tiêu chuẩn an toàn và hiệu quả để cấp phép sử dụng khẩn cấp cho trẻ em từ 5 - 11 tuổi.
Tiêm phòng COVID-19 cho trẻ từ 5 tuổi trở lên có thể mang lại lợi ích sau:
- Bảo vệ cả gia đình, bao gồm cả anh chị em của trẻ chưa đủ điều kiện tiêm chủng và các thành viên khác trong gia đình có nguy cơ cao bị bệnh nghiêm trọng nếu mắc COVID-19.
- Giúp trẻ có thể trở lại trường và tham gia an toàn vào các môn thể thao, sân chơi, và các hoạt động nhóm khác.
- Giúp làm chậm sự lây lan của COVID-19 trong cộng đồng.

Tiêm vaccine có thể giúp bảo vệ trẻ em từ 5 tuổi trở lên, tránh lây lan cho cộng đồng.
-Trong các thử nghiệm lâm sàng đối với trẻ em từ 5 - 11 tuổi đã được thực hiện, không có mối lo ngại nghiêm trọng nào về tính an toàn được xác nhận. Các phản ứng phụ được báo cáo là nhẹ và tương tự như những phản ứng sau khi tiêm các loại vaccine thông thường.
- Các tác dụng phụ có thể xảy ra ở trẻ em sau khi tiêm vaccine phòng COVID-19 có thể bao gồm:
Những tác dụng phụ này có thể ảnh hưởng đến khả năng hoạt động hàng ngày của trẻ, nhưng chúng sẽ biến mất sau vài ngày. Một số trẻ không gặp tác dụng phụ khi tiêm vaccine phòng COVID-19.
- Lợi ích của việc tiêm vaccine phòng COVID-19 được xác định vượt xa những nguy cơ đã biết và nguy cơ tiềm ẩn.
Không giống như nhiều loại thuốc, liều lượng vaccine phòng COVID-19 không thay đổi theo trọng lượng người bệnh mà theo tuổi tính đến ngày tiêm chủng. Điều này cũng đúng đối với các loại vaccine được khuyến nghị thông thường khác, như vaccine phòng cúm hoặc viêm gan.
Trẻ em cần tiêm mũi thứ hai vaccine Pfizer/BioNTech phòng COVID-19 vào thời điểm 3 tuần sau mũi tiêm đầu tiên. Nhiều hơn 1 liều là cần thiết để trẻ có được sự bảo vệ tốt nhất và tạo được khả năng miễn dịch cao hơn.
Nếu tuổi của trẻ từ 11 chuyển sang 12 tuổi trong khoảng thời gian giữa liều thứ nhất và thứ hai, thì liều thứ hai phải là liều dành cho người từ 12 tuổi trở lên. Tuy nhiên, nếu trẻ được tiêm vaccine Pfizer/BioNTech liều thứ 2 đang trong độ tuổi 5 đến 11 thì trẻ không cần phải tiêm liều nhắc lại và vẫn được coi là đã được tiêm chủng đầy đủ.
Vaccine phòng COVID-19 cho trẻ em từ 5 - 11 tuổi có các thành phần hoạt tính tương tự như vaccine dùng cho người lớn và thanh thiếu niên.
Tuy nhiên, vaccine phòng COVID-19 dành cho trẻ em 5 - 11 tuổi được đựng trong lọ khác, với màu nắp khác biệt để giúp các cơ sở tiêm chủng biết rõ loại vaccine nào dành cho trẻ em từ 5 - 11 tuổi và loại vaccine nào dành cho người từ 12 tuổi trở lên.

Vaccine phòng COVID-19 đang được giám sát an toàn với chương trình giám sát an toàn vaccine toàn diện và mạnh mẽ nhất trong lịch sử nước Mỹ. CDC Mỹ giám sát tính an toàn của tất cả các vaccine phòng COVID-19, ngoài tất cả các loại vaccine khác, sau khi các vaccine được cấp phép sử dụng. Điều này gồm việc theo dõi nguy cơ xảy ra các tác dụng phụ tiềm ẩn sau khi tiêm chủng, bao gồm và viêm màng ngoài tim ở trẻ em từ 5 - 11 tuổi.
Nếu trẻ bị phản ứng dị ứng nghiêm trọng, các cơ sở tiêm chủng có thể nhanh chóng xử trí và gọi cấp cứu nếu cần.
Các báo cáo về viêm cơ tim và viêm màng ngoài tim (viêm tim) ở trẻ vị thành niên và thanh niên là rất hiếm. Các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục theo dõi các nguy cơ này ở trẻ nhỏ. Nhìn chung, thanh thiếu niên từ 12 - 17 tuổi có nguy cơ bị viêm cơ tim cao hơn so với trẻ từ 5 - 11 tuổi. Tuy nhiên, hầu hết trẻ vị thành niên bị tình trạng này sau khi tiêm chủng đều đáp ứng tốt với điều trị và hồi phục nhanh chóng.
Viêm cơ tim sau tiêm vaccine COVID-19 ở trẻ là rất hiếm.
Vaccine COVID-19 có thể được tiêm cùng ngày và giờ như các vaccine khác, bao gồm cả vaccine phòng cúm và các vaccine thông thường khác.
Tiêm phòng định kỳ là biện pháp dự phòng cần thiết không nên trì hoãn. Thu xếp thực hiện việc tiêm chủng định kỳ cho trẻ càng sớm càng tốt nhằm hoàn thành việc tiêm chủng.
Nếu tiêm nhiều loại vaccine trong một thời điểm, thì mỗi mũi tiêm sẽ được tiêm ở một vị trí tiêm khác nhau, tùy theo khuyến cáo đối với từng độ tuổi.
COVID-19 có thể khiến trẻ bị ốm nặng và phải nhập viện. Trong một số trường hợp, các biến chứng do nhiễm trùng có thể dẫn đến tử vong.
Trẻ em mắc các có nguy cơ cao bị tình trạng bệnh nặng do COVID-19 hơn so với trẻ em không có các bệnh nền.
Một số trẻ em bị nhiễm virus SARS-CoV-2 có thể bị các biến chứng nghiêm trọng như Hội chứng viêm đa hệ thống ở trẻ (MIS-C), đây là tình trạng nhiều cơ quan trong cơ thể bị viêm, bao gồm tim, phổi, thận, não, da, mắt, hoặc hệ tiêu hóa.
CDC Mỹ khuyến nghị tiêm chủng vaccine phòng COVID-19 cho tất cả mọi người từ 5 tuổi trở lên, kể cả những người đã từng mắc COVID-19.
Các bằng chứng nghiên cứu mới cho thấy mọi người được bảo vệ tốt hơn khi được tiêm chủng đầy đủ so với người chỉ trải qua mắc COVID-19 mà chưa tiêm chủng.
Theo Sức khoẻ và Đời sống